Theo quy định Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (BLHS) quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”.

Theo đó, người phạm một tội do BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Thực tiễn cho thấy có một số hành vi tuy về hình thức có các dấu hiệu cấu thành của một tội phạm cụ thể, nhưng về nội dung những hành vi đó lại chứa đựng một số tình tiết làm loại trừ tính chất tội phạm của hành vi (hoặc tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi) hay nói cách khác, do thiếu ít nhất một trong các dấu hiệu cơ bản của tội phạm, nên hành vi ấy không bị coi là tội phạm và người thực hiện nó không phải chịu trách nhiệm hình sự. Đó là những trường hợp sau:

1. Trường hợp hành vi có tính chất nguy hiểm không đáng kể

Căn cứ theo Khoản 4 Điều 8 BLHS với những hành vi dù có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải chịu trách nhiệm hình sự mà được xử lý bằng các biện pháp khác. Các biện pháp xử lý khác có thể là hành chính hoặc kỷ luật khác.

giai-quyet-vu-an-dan-su

2. Trường hợp sự kiện bất ngờ

Điều 11 BLHS quy định:

Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội do sự kiện bất ngờ, tức là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

3. Trường hợp chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Điều 12 BLHS quy định:

– Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

– Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc  tội phạm  đặc biệt nghiêm trọng.

Theo như quy định trên thấy rằng : Người chưa đủ 14 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự.

4. Trường hợp phòng vệ chính đáng

Điều 15 BLHS quy định về phòng vệ chính đáng.

Do đó, Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm. Và người phòng vệ chính đáng sẽ không phải trịu trách nhiệm hình sự. Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự.

5. Trường hợp tình thế cấp thiết

Điều 16 BLHS:

Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.

Như vậy, người có hành  vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự.