Hiện nay, tình trạng thanh thiếu niên tụ tập đua xe trái phép đang có chiều hướng gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp. Hoạt động của các đối tượng đua xe trái phép có tính chất tinh vi hơn bao giờ hết. Nhằm đối phó với lực lượng chức năng, các đối tượng này còn bố trí người cảnh giới, xác định những đoạn đường vắng, vào thời điểm không có lực lượng Cảnh sát giao thông tuần tra sẽ tổ chức tụ tập,  đua xe. Nguy hiểm hơn đó là các đối tượng đua xe trái phép còn ngang nhiên lộng hành, bất chấp sự quản lý của lực lượng chức năng.

toi-dua-xe-trai-phep
Tội đua xe trái phép theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

1. Về dấu hiệu pháp lý

Khách thể: Tội đua xe trái phép xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến an toàn về tính mạng, sức khỏe và tài sản của Nhà nước và công dân.

 Mặt khách quan: Hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi đua xe. Người đua xe trái phép có thể thực hiện một trong các hành vi như: chuẩn bị phương tiện (xe đua) và những điều kiện cần thiết cho cuộc đua, đến nơi tập trung đua, điều khiển xe tham gia cuộc đua.

− Chủ thể: Chủ thể của tội phạm này không phải là chủ thể đặc biệt, chỉ cần người có năng lực trách nhiệm hình sự và đến một độ tuổi theo quy định của Bộ luật hình sự thì đều có thể trở thành chủ thể của tội này.

 − Người từ đủ 16 tuổi trở lên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đua xe trái phép theo khoản 1,2,3,4 Điều 266 Bộ luật hình sự năm 2015

− Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS khi phạm tội thuộc khoản 2, 3,4 Điều 266 BLHS năm 2015

−  Mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội có lỗi cố ý

2. Về khung hình phạt

Căn cứ theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự 2015 thì các khung hình phạt đã được tăng lên đáng kể, thể hiện mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội này đồng thời cho thấy mức độ phòng chống tội phạm đối với tội danh này đang ngày càng được chú trọng.  

Có 4 khung hình phạt được áp dụng đối với tội phạm này đó là :

Khung 1: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với:

− Người đua trái phép xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc Điều 265 của Bộ luật hình sư 2015 hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm:

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng.

Khung 2: Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 10 năm nếu thuộc một trong các trường hợp:

+ Làm chết người;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

+ Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

+ Tham gia cá cược;

+ Chống lại người có trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông hoặc người có trách nhiệm giải tán cuộc đua xe trái phép;

+ Tại nơi tập trung đông dân cư;

+ Tháo dỡ thiết bị an toàn khỏi phương tiện đua;

+ Tái phạm nguy hiểm.

Khung 3: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Làm chết 02 người;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

Khung 4: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm nếu thuộc một trong các trường hợp:

+ Làm chết 03 người trở lên;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

+ Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.