Sau đây là ý kiến của Luật sư Nguyễn Văn Tuấn Giám đốc Hãng luật Newvision  về những câu hỏi của tại chí Môi trường và Đô thị Việt Nam

Luật sư đánh giá thế nào về hệ thống các quy định pháp luật hiện nay của Việt Nam về lĩnh vực môi trường? Theo ý kiến luật sư, hệ thống các quy định pháp luật này đã hoàn chỉnh chưa?

Tính đến thời điểm hiện tại, nhà nước ta đang áp dụng Luật Bảo vệ môi trường 2014 được ban hành ngày 23/06/2014 cùng với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khác. Phạm vi điều chỉnh của luật là quy định về hoạt động bảo vệ môi trường; chính sách, biện pháp và nguồn lực để bảo vệ môi trường; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong bảo vệ môi trường. So với luật cũ, có thể nói Luật bảo vệ môi trường 2014 có những bước tiến đáng kể, nhằm đáp ứng theo tình hình thực tế của nước ta hiện nay. Cụ thể luật quy định rõ những đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường; quy định rõ trách nhiệm của cá nhân, tổ chức xả rác ra môi trường phải nộp phí bảo vệ môi trường; Mức phí nước thải bằng 10%/m3 phí nước sạch; Mức phạt đối với hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn; Quy định về mức cây xanh tối thiểu trong khu công nghiệp là 10% …. Hơn thế nữa, Nghị định 155/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường hay quy định xử phạt hình sự đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường trong Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 cho thấy sự cứng rắn của nhà nước ta trong việc bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên.

Luật sư Tuấn trả lời câu hỏi Tạp chí Môi trường và Đô thị Việt Nam

Tuy nhiên, có thể thấy đất nước ta đang ngày càng phát triển, nhà máy, các khu công nghiệp mọc lên ngày càng nhiều. Điều này đã tạo một áp lực không nhỏ đối với nhà nước ta trong việc cân bằng giữa việc phát triển nền kinh tế với việc bảo đảm môi trường không bị ô nhiễm. Mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước đã và đang ngày càng trở nên nghiêm trọng ở Việt Nam. Nguồn nước mặt ở một số nơi bị ô nhiễm, nhất là trong các khu đô thị, xung quanh các KCN, làng nghề. Tại các lưu vực sông, ô nhiễm và suy thoái chất lượng nước tập trung ở vùng trung lưu và hạ lưu, nhiều nơi ô nhiễm nghiêm trọng, như ở lưu vực sông Nhuệ – Đáy, sông Cầu, hệ thống sông Đồng Nai. Trong đó phổ biến là ô nhiễm hữu cơ tại các lưu vực sông như sông Ngũ Huyện Khê (Bắc Ninh), sông Nhuệ đoạn chảy qua Hà Nội, sông Sài Gòn đoạn chảy qua Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh…; ô nhiễm chất dinh dưỡng, kim loại nặng trong nước dưới đất tại vùng Đồng bằng Bắc bộ như: khu vực Hà Đông, Hoài Đức (Hà Nội), Ý Yên, Trực Ninh (Nam Định), thành phố Thái Bình,…

Đối với môi trường không khí, tại các điểm, nút giao thông, các công trình khu vực xây dựng, ô nhiễm không khí có dấu hiệu gia tăng, nhất là trong các đô thị lớn. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, nồng độ chất ô nhiễm trong không khí khu vực ven đường giao thông, trong đó chủ yếu là CO tăng 1,44 lần và bụi PM10 tăng 1,07 lần. Còn tại Hà Nội, nếu không có giải pháp nào thì nồng độ phát thải bụi mỗi năm có thể đạt 200mg/m3 vào năm 2020, gấp 10 lần mức khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới.

Theo kết quả khảo sát của Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (Đại học Bách khoa Hà Nội) và Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy, 100% mẫu nước thải ở các làng nghề đều cho thông số ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép. Riêng Hà Nội, khảo sát tại 40 xã cho kết quả khoảng 60% số xã bị ô nhiễm nặng từ các hoạt động sản xuất.

Đứng trước thực trạng kể trên thì quả thật hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường nước ta vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng thực tế hiện tại

Những năm qua cho thấy Đảng, Chính phủ các bộ ban ngành đã có nhiều chính sách, quy định quan tâm, xử lý các vi phạm về vấn đề môi trường. Các mức xử phạt tăng lên, luật sư đánh giá như thế nào về điều này?

Thực tế thì chúng ta không thể thay đổi luật hàng ngày, hàng giờ để đáp ứng được sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, luật lại quy định những điều căn bản nhất để các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp áp dụng theo. Do đó để đảm bảo thực hiện tốt những quy định này, đồng thời đảm bảo đáp ứng được thực tiễn cuộc sống, nhà nước ta ban hành các quyết định, nghị quyết, thông tư điều chỉnh chi tiết về xử lý vi phạm môi trường. Những văn bản, quyết định này cho thấy sự tiếp thu, tiến bộ của hệ thống pháp luật nước ta, luôn có những sự thay đổi, điều chỉnh sao cho phù hợp với tình hình thực tế của từng đối tượng, từng địa phương.

luật sư Nguyễn Văn Tuấn

Các quy định về bảo vệ môi trường đã có, pháp luật đưa ra hình thức xử lý nghiêm nhưng tại sao vẫn tồn tại tình trạng người dân không chấp hành, các doanh nghiệp vẫn ngang nhiên xả thải làm ô nhiễm môi trường? Vậy nguyên nhân do đâu? Theo Luật sư, liệu hệ thống pháp luật có cần phải bổ sung điều gì hay không?

Nguyên nhân của việc người dân không nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, vẫn còn tình trạng doanh nghiệp hiên ngang xả thải gây ô nhiễm môi trường xuất phát từ nhiều lý do khác nhau.

Thứ nhất, hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật về BVMT còn nhiều bất cập. Theo thống kê của Bộ Tư pháp, hiện nay có khoảng 300 văn bản pháp luật về BVMT để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế, các quy trình kỹ thuật, quy trình sử dụng nguyên liệu trong sản xuất. Tuy nhiên, hệ thống các văn bản này vẫn còn chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, thiếu chi tiết, thiếu tính khả thi. Các quy định còn nằm phân tán ở nhiều lĩnh vực, thiếu tính gắn kết, nhiều nội dung còn bị bỏ ngỏ như các quy định về quản lý, xử lý chất thải ở khu vực nông thôn; vấn đề thu phí và lệ phí trong quản lý chất thải nông nghiệp, làng nghề… Ngoài ra, tính ổn định của hệ thống văn bản pháp luật về BVMT không cao, tình trạng văn bản mới được ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung khá phổ biến, từ đó làm hạn chế hiệu quả điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, hoạt động kinh tế… trong việc BVMT. Bên cạnh đó, trách nhiệm quản lý nhà nước về BVMT hiện nay được phân công cho nhiều bộ, ngành dẫn đến khi triển khai trong thực tế gặp nhiều khó khăn do sự phối hợp thiếu đồng bộ, sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm không rõ ràng.

Thứ hai, về nhận thức, ý thức trách nhiệm về BVMT của chủ đầu tư, một số ngành, cấp chính quyền, tổ chức kinh tế, cộng đồng dân cư còn hạn chế. Khi họ không nhận thấy được tầm quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt khi đưa lên bàn cân so sánh với lợi ích kinh tế. Họ sẵn sàng đánh đổi chút lợi ích nhỏ chỉ để thu lợi nhuận, không màng đến hậu quả.

Thứ ba, về công tác tuyên truyền pháp luật về bảo vệ môi trường tới người dân chưa thực sự hiệu quả. Ngay cả đối với đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác BVMT còn hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thì việc tuyên truyền tới người dân không thể đạt kết quả nhưu mong muốn được.

Thứ tư, nhà nước ta đang có chính sách thu hút đầu tư, tạo điều thu hút đầu tư nên Việt Nam có xu hướng nới lỏng các tiêu chuẩn BVMT. Chính vì vậy, đã xảy ra một số sự cố môi trường nghiêm trọng. Ngoài ra, do những hạn chế của Việt Nam về các quy chuẩn kỹ thuật, các nhà đầu tư nước ngoài có thể đưa vào những công nghệ lạc hậu, thâm dụng tài nguyên, thâm dụng năng lượng và lao động nhằm tối đa hóa lợi nhuận.

Thứ năm, là về những chế tài trong việc xử lý vi phạm đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường chưa thực sự hiệu quả. Chúng ta có thể thấy hình thức xử phạt đa phần là xử phạt hành chính, tính răn đe chưa cao. Có nhiều doanh nghiệp sẵn sàng bỏ ra hàng trăm triệu tiền phạt, nhưng lợi nhuận họ thu về phải tính cả chục tỷ, tính ra thì họ vẫn lời, vậy tội gì họ không đánh đổi.

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn

Để giải quyết được những vấn đề trên, trước hết nhà nước ta phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát về môi trường; rà soát, khoanh vùng các đối tượng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, rủi ro xảy ra sự cố môi trường và có các biện pháp kiểm soát chặt chẽ hoạt động xả thải, phòng ngừa các sự cố môi trường bằng các biện pháp kỹ thuật – công nghệ phù hợp; xử lý dứt điểm các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; xây dựng năng lực ứng phó với sự cố môi trường, các vụ việc gây ô nhiễm môi trường.

Thứ hai, nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về BVMT bảo đảm thống nhất, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu BVMT. Đồng thời, rà soát chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các Bộ, ngành liên quan đến công tác BVMT, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương. Ban hành các văn bản triển khai Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 tại địa phương; tăng cường tuyên truyền, phổ biến, quán triệt và triển khai các nội dung của Luật vào thực tiễn địa phương, đặc biệt là những nội dung mới. Kiện toàn tổ chức và tăng cường năng lực cho các cơ quan chuyên môn về BVMT tại địa phương; chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tuyển chọn cán bộ có chuyên môn phù hợp với yêu cầu của công tác quản lý môi trường.

Thứ ba, là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về môi trường trong toàn xã hội; tăng cường vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội trong phản biện, giám sát, tham gia quản lý nhà nước về BVMT.