Câu hỏi tư vấn:

Chị H vừa rút 100 triệu đồng tiền gửi ngân hàng, vừa ra khỏi ngân hàng đi dược khoảng 200m thì K dùng dao dí vào cổ chị H và yêu cầu chị H phải đưa tiền cho K, nếu không K sẽ cứa cổ chị H. Ngay lúc đó, người dân xung quanh phát hiện ra và đã bắt giữ được K giao cho công an phường.

Xin hỏi trong trường hợp này K chưa lấy được số tiền của chị K vậy K có phạm tội gì không?

cuop-tai-san

Trả lời tư vấn:

Trước tiên TGS xin cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến chúng tôi!

Câu hỏi của bạn chúng tôi xin giải đáp như sau:

Về tội danh

Theo quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 về Tội cướp tài sản như sau:

“Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.”

Cùng xem xét hành vi của K, K đã dùng dao dọa cứa đổ chị H nếu chị H không đưa tiền nhằm mục đích lấy được số tiền của chị H- đây chính là đe dọa dùng vũ lực ngày tức khắc làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.

Nhưng vấn đề bạn băn khoăn đó là K chưa lấy được tiền của chị H thì có phạm tội hay không. Tôi xin trả lời là hành vi của K đã cấu thành tội cướp tài sản. Bởi lẽ, trong điều khoản nêu trên quy định về tội cưới tài sản nhà làm luật không quy định rằng người thực hiện hành vi phạm tội phải lấy được tài sản của nạn nhân thì mới cấu thành tội phạm mà chỉ cần người phạm tội dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có những hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản là đã cấu thành tội cướp tài sản rồi. Như vậy, khi K dùng dao dọa cứa cổ chị H nếu không đưa tiền nhằm chiếm đoạt tài sản của chị H, khi đó thì hành vi của K đã cấu thành tội phạm mà không căn cứ vào hậu quả là K có chiếm đoạt được tài sản hay không.

Hành vi của K sẽ cấu thành tội phạm theo khoản 2 Điều 133 vì K đã dùng dao là vũ khí nguy hiểm để uy hiếp chị H

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

……

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;”

Lưu ý: Một vấn đề bạn không nhắc tới nhưng tôi xin lưu ý như sau: đó là về chủ thể thực hiện hành vi phạm tội.

Chủ thể thực hiện hành vi phạm tội phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Có nghĩa là đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đủ khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình.

Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự

“1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”

Tội cướp tài sản tại khoản 2 Điều 133 có hình phạt cao nhất là 15 năm, tức là tội phạm rất nghiêm trọng. Đối chiếu với quy định trên thì nếu K đủ 14 tuổi trở lên thì sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình. Còn nếu K dưới 14 tuổi thì K sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Về năng lực chịu trách nhiệm hình:

“Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.”

Nếu K thuộc một trong các trường hợp trên thì K sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

Tổng hợp về độ tuổi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự thì nếu K đủ 14 tuổi trở lên có đầy đủ khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình thì K sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản theo khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự.

Trên đây là tư vấn của TGS cho câu hỏi của bạn. Mọi chi tiết hoặc thắc mắc xin liên hệ với chúng tôi qua hotline 1900 6110 để được tư vấn trực tiếp.

Trân trọng!