Hiện nay, với nhu cầu sử dụng sách của các bạn sinh viên ngày lớn, các cửa hàng photo coppy theo đó mà mọc lên như nấm quanh các trường Đại học nhằm đánh vào tâm lí chung của các bạn sinh viên đó là mua những quyển sách “rẻ, bền và có thể sử dụng nhiều lần” .

Vì trên thực tế, giá tiền của một quyển sách gốc khá là đắt so với bản đã được photo. Chính vì thế, ở các cửa hàng này sách photo được bày bán một cách công khai và có giá rất rẻ. Tuy nhiên, việc photo tràn lan và bày bán một cách công khai như vậy có được pháp luật cho phép hay không?

Các quy định của pháp luật về vấn đề xâm phạm quyền tác giả và sử dụng tác phẩm đã công bố mà không xin phép:

Theo Điều 225 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan:

“1. Người nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà cố ý thực hiện một trong các hành vi sau đây, xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam, thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

a) Sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình;

b) Phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên;

d) Gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan 500.000.000 đồng trở lên;

đ) Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau

a) Pháp nhân thương mại thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm;

c) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm”

Theo quy định trên, người nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà thực hiện sao chép tác phẩm xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại, thì bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 500 triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 2 năm.

Căn cứ Khoản 6 Điều 1 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2009 quy định như sau:

“6. Điều 25 được sửa đổi, bổ sung như sau: 

Điều 25. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao 

1. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao bao gồm: 

a) Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân; 

b) Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình; 

c) Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu; 

d) Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại; 

đ) Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu; 

e) Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào; 

g) Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy; 

h) Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó; 

i) Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị; 

k) Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng. 

2. Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm. 

3. Các quy định tại điểm a và điểm đ khoản 1 Điều này không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính.”

Theo quy định trên thì việc photo sách là một hình thức sao chép tác phẩm. Và việc sao chép tác phẩm chỉ không phải xin phép và không phải trả tiền khi: “Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân” và “Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu”.

Hiện nay, hầu hết các cửa hàng photo copy đều photo những quyển sách có bản quyền một cách tràn lan với mục đích kinh doanh có lợi nhuận.

Việc sao chép những quyển sách đó chỉ không phải xin phép và trả tiền khi nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy hay lưu trữ trong thư viện. Tuy nhiên, việc photo copy của những cửa hàng này đều nhằm mục đích thương mại, không thuộc các trường hợp được miễn xin phép và trả tiền cũng như không hề có sự cho phép của tác giả, chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan. Vì thế, hành vi này đã cấu thành tội xâm phạm quyền tác giả. Tùy theo mức độ hành vi có thể bị xử phạt theo một trong những khoản được quy định trong BLHS và BLSHTT

Nhưng trên thực tế, việc xử phạt những cửa hàng photo copy này rất khó vì chính bản thân tác giả – những người sáng tạo ra tác phẩm ngay từ đầu cũng không hề có ý thức yêu mến hay trân trọng đứa con tinh thần của mình. Khi phát hiện ra, người vi phạm đến gặp và xin lỗi là xong. Điều này gây khó khăn cho cơ quan quản lý trong việc thực thi pháp luật .