Căn cứ theo quy định của pháp luật hiện hành, về thủ tục gửi đơn khởi kiện đến tòa án được quy định như sau:

Điều 190 – Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015). Gửi đơn khởi kiện đến Tòa án

  1. Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây:
  2. a) Nộp trực tiếp tại Tòa án;
  3. b) Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính;
  4. c) Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
  5. Ngày khởi kiện là ngày đương sự nộp đơn khởi kiện tại Tòa án hoặc ngày được ghi trên dấu của tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi.

gui-don-kien-qua-buu-dien

 

Trường hợp không xác định được ngày, tháng, năm theo dấu bưu chính nơi gửi thì ngày khởi kiện là ngày đương sự gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính. Đương sự phải chứng minh ngày mình gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính; trường hợp đương sự không chứng minh được thì ngày khởi kiện là ngày Tòa án nhận được đơn khởi kiện do tổ chức dịch vụ bưu chính chuyển đến.

  1. Trường hợp người khởi kiện gửi đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn.
  2. Trường hợp chuyển vụ án cho Tòa án khác theo quy định tại Điều 41 của Bộ luật này thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn khởi kiện đến Tòa án đã thụ lý nhưng không đúng thẩm quyền và được xác định theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
  3. Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này.

Về thủ tục nhận đơn khởi kiện có quy định như sau:

Điều 191 – BLTTDS 2015 quy định về Thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện:

1.Tòa án qua bộ phận tiếp nhận đơn phải nhận đơn khởi kiện do người khởi kiện nộp trực tiếp tại tòa án hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính và phải ghi vào sổ nhận đơn; Trường hợp tòa án nhận đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án in ra bản giấy và phải ghi vào sổ nhận đơn.

  1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.
  2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:
  3. a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
  4. b) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;
  5. c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;
  6. d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
  7. Kết quả xử lý đơn của Thẩm phán quy định tại khoản 3 Điều này phải được ghi chú vào sổ nhận đơn và thông báo cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

Căn cứ vào các quy định trên, đương sự bị xâm phạm quyền, lợi ích hoàn toàn có quyền gửi đơn khởi kiện kèm theo những chứng cứ, tài liệu liên quan qua đường bưu điện đến tòa án nhân dân để yêu cầu giải quyết vụ việc, đòi lại công bằng cho mình.